Tìm kiếm tin tức

Chung nhan Tin Nhiem Mang

 

 

Triều Nguyễn đo mưa, đoán gió, xem sao thế nào?
Ngày cập nhật 30/10/2018

Đời sống nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên đã tạo cho người Việt Nam lối sống phụ thuộc vào các hiện tượng thời tiết cũng như đem lại hiểu biết, kinh nghiệm phong phú về mưa, nắng, cuồng phong bão táp... Và dưới triều Nguyễn, có một cơ quan chuyên chăm lo việc quan sát, chiêm nghiệm, dự báo các hiện tượng thiên nhiên là Khâm thiên giám. 

Quan tượng đài (nguồn: sưu tầm).
Các vua triều Nguyễn nhận thấy thời tiết có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của muôn dân, vì vậy yêu cầu Khâm thiên giám với chức năng nhiệm vụ của mình, cần phải sát sao để có cách ứng phó thích hợp. Năm Nhâm Ngọ (1822), nhân Quảng Trị có sâu keo làm hại, dinh thần không báo, chỉ biên vào sổ nhật ký phong vũ, vua Minh Mạng biết tin quở mắng, nhân sắc cho Khâm thiên giám là cơ quan theo dõi thiên văn, thời tiết rằng: Từ nay các thành dinh trấn có dâng bản đồ nhật ký phong vũ, nếu có những tai nạn gió bão, mưa đá, hạn, lụt thì phải tóm lấy những điều lớn tâu lên.
 
Cũng dưới thời vua Minh Mạng (1820 - 1841), vua cho dựng Quan Tượng Đài trên góc Tây Nam Kinh thành Huế để làm nơi Khâm thiên giám quan sát thiên tượng.
 
Vậy công việc quan sát và giải mã các hiện tượng thiên nhiên của Khâm thiên giám triều Nguyễn cách đây hai thế kỷ ra sao?
 
Cách xem thiên văn, dự báo thời tiết
 
Để xác định lượng mưa trong một khoảng thời giờ nhất định, Khâm thiên giám triều Nguyễn thường dùng thùng gỗ hoặc chậu đồng để hứng nước mưa kết hợp kiểm tra xem lượng mưa thấm xuống đất là bao nhiêu tấc. Châu bản triều Nguyễn còn lưu khá nhiều bản tấu của Khâm thiên giám về việc đo mưa, như bản tấu năm Minh Mạng 13 (1832) có nội dung: Chúng thần cho đặt 1 thùng gỗ hình vuông, mỗi mặt 1 thước để đo nước mưa. Hôm nay mưa từ giờ Mão đến giờ Tỵ, nước hứng được 1 tấc 1 phân. Trên đất khô, nước thấm sâu xuống 4 tấc 4 phân. Châu phê: “Được. Biết cho”.
 
Ngoài ra, khi thời tiết không thuận như thiếu mưa nhiều ngày, triều Nguyễn cho rằng cần cầu đảo để có mưa. Theo Châu bản triều Nguyễn năm Tự Đức 7 (1854), khi thấy lượng mưa đo được vẫn chưa được như mong muốn, vua Tự Đức phê vào bản Tấu của Khâm thiên giám: Tuy đã nhuần thấm nhưng vẫn chưa được thấm sâu. Truyền cho Phan Thanh Giản hết lòng cầu đảo.
 
Châu bản triều Nguyễn nói về cách kiểm tra độ ẩm của cơ quan khí tượng triều Nguyễn như sau: Hôm nay đúng tiết hạ chí, chúng thần theo lệ kiểm nghiệm số than, đất mà trước đó 10 ngày chúng thần đã cân lấy mỗi thứ 2 cân (có thăng bằng ở 2 đầu cân). Đến hôm nay vào đầu khắc 3 giờ Dần, chúng thần kiểm nghiệm thấy khí đất có hơi nặng một chút. So với tiết hạ chí hàng năm, năm nay cũng tương tự. Châu điểm.
 
Lúc bấy giờ, tiếng sấm đầu tiên trong năm âm thanh như thế nào cũng được coi là một dấu hiệu dự báo năm đó thuận lợi, tốt lành hay trắc trở, Châu bản triều Nguyễn năm Tự Đức 15 (1862) có bản Tấu của Khâm thiên giám với nội dung:
 
Chúng thần ở Khâm thiên giám kính tâu: Giờ Thân ngày hôm nay có tiếng sấm đầu tiên tại phía Tây, âm của nó ỳ ỳ không to. Chúng thần tra sách nói rằng, tiếng sấm đầu tiên hòa nhã thì năm đó tốt. Lại nói tiếng sấm đầu tiên nếu ở phía Tây thì lúa chín được một nửa sẽ có nhiều sâu bọ. Dám xin theo lệ tâu lên. Châu phê: Đã biết.
 
Thậm chí, việc dự báo qua tiếng sấm còn mang màu sắc tâm linh hay bói xem tốt xấu qua tiếng sấm. Châu bản triều Nguyễn, năm Minh Mạng 19 (1838) có đoạn: Khâm thiên giám chúng thần tâu: Vào giờ Thân ngày 20 tháng này, sấm phát ra ở phương Tây. Chúng thần vâng xem sách Quản khuy chép rằng, sấm phát ra vào tháng 2 thì trừ được hại, là cái mấu chốt để hưng lợi nhân quân (nhà vua), Vua phát hiệu lệnh hợp với đạo trời nên sấm vì thế mà phát ra. Nay sấm phát ra đầu năm là đúng thời vậy, tiếng sấm êm dịu thì năm ấy sẽ tốt. Châu phê: Đạo trời thì sâu xa huyền bí nhưng đạo người thì làm cho hết mà thôi.
 
Không chỉ đoán tiếng sấm, Khâm thiên giám triều Nguyễn còn có cách đoán trăng. Theo bản Tấu của Khâm thiên giám còn lưu trong Châu bản triều Nguyễn, vào lúc 2 giờ sáng ngày 16 tháng 8 năm Bảo Đại 6 (1931), Khâm thiên giám quan sát thấy hình thể mặt trăng có khí sắc vàng, một lát sau khí đen bao trùm 9 phần, ánh sáng yếu mờ. Đến 4 giờ rưỡi trăng bắt đầu sáng trở lại. Thuộc viên của giám ấy hội đồng tra trong sách có nói rằng mặt trăng biến sắc đen, thì chủ có mệnh thủy sẽ bị bệnh.
 
Khi đó, hiện tượng nhật thực thường được vua quan triều Nguyễn coi là điềm dữ. Nên vào những ngày này, vua thường ở trong cung, ăn chay, cầu phúc:
 
Ngày Giáp Ngọ, tháng Giêng, năm Tự Đức thứ 3 (1850), có nhật thực. Trước đây, toà Khâm thiên giám đem độ nhật thực tâu lên vua biết. Viện Đô sát xin tham xét điển lễ đời cổ để kính cẩn việc trời răn bảo. Ngày hôm ấy, vua ở trong cung ăn chay cầu phúc, cung kính, để cảm cách đến trời, đưa các quan vào tả, hữu vũ nghiêm tĩnh đợi khi Mặt Trời lại tròn mới lui.
 
Sao Chổi cũng bị coi là sao xấu. Đồng Khánh năm Ất Dậu (1885), Sao Chổi mọc ở phương Đông Nam (đuôi chỉ về tây bắc dài 7 - 8 thước).
 
Vua hỏi Khâm thiên giám, điềm tốt xấu thế nào? Dẫn đoán cho thực, tâu để biết. Giám thần tra sách thiên văn, rồi tâu trả lời, nói: Sao Chổi là sao xấu, mỗi khi mọc ra, nên có trừ bỏ cái cũ, ban bố cái mới, mọc ở nơi nào trông thấy lâu thì tai nạn nhiều, lặn chóng, thì tai nạn ít; còn phương nào bị đuôi sao ấy chỉ vào, thì chịu tai hoạ. Lại nói: Sao chổi mọc ở phía đông nam, chỉ sang tây bắc, thì trong nước được mùa to. Địa phận nước ta, thuộc về đông nam, về điềm tốt xấu gián hoặc cũng có, sao Thái Bạch mọc ban ngày, tất chủ có gió to. Lại nói: Sao ấy mọc ban ngày, có việc quân, việc quân phải bãi, không có việc quân, việc quân sẽ nổi lên.
 
Vua bảo các đại thần rằng: Gần nay, trẫm thấy thời tiết hơi được hoà thuận, lòng thực có mừng. Ngày nay ngờ đâu ác tinh lại mọc ra, thì thân mọn này chối sao được lỗi, nên sức cho Nội các vâng theo lời Dụ, khuyên răn các quan trong, ngoài, phải gia tâm giúp đời, cho vững yên cơ đồ mãi mãi, ấy là phúc lớn của vua, tôi, sĩ, thứ ta.
 
Việc đoán định các hiện tượng mây, mưa, nắng, gió, bão, hạn hán, mặt trăng, mặt trời, các sao... của Khâm thiên giám triều Nguyễn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm được đúc kết, được “cha truyền con nối” và cả tự tìm tòi, thu thập kiến thức qua các bộ sách đầy màu sắc huyền bí của Trung Hoa. Đặc biệt, việc giải mã các hiện tượng thiên nhiên thường căn cứ hoặc đối chiếu với kinh nghiệm phán đoán của Trung Hoa.
 
Chẳng hạn việc dẫn sách sử đời Đường để lý giải “nhật thực không ứng nghiệm” vào sau đây là một ví dụ: Ngày Nhâm Tuất, tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), có nhật thực. Trước đây, Khâm thiên giám tâu: Giờ Tỵ ngày mồng một tháng ấy có nhật thực. Ngày hôm ấy vua tự răn sửa mình, tránh không ngồi chính điện, thôi bỏ nghi vệ phiên triều. Đến giờ Tỵ, mây tối dầm hơi mưa, trông không thấy nhật thực. Khâm thiên giám bèn tâu rằng: Xét sách sử đời Đường có nói: “nhật thực không ứng nghiệm, các quan nên chúc mừng”, cho là vua sửa đức nên mới được thế .
 
Thiết bị hỗ trợ việc xem thiên văn và dự báo thời tiết
 
Để hỗ trợ cho công việc của Khâm thiên giám, triều Nguyễn có trang bị các dụng cụ như chậu hứng nước mưa, cây đo bóng mặt trời, phong vũ hàn thử biểu của Tây dương, thước đo trời, hàn thử biểu hạng nhỏ, hạng trung của Tây dương, đồ bản thiên văn nhật lịch, thiên văn tinh tú, ống nhòm bằng thau, bàn xem hướng gió...
 
Kính thiên văn (thiên lý kính) được phát minh từ khá sớm ở phương Tây, để quan sát các thiên tượng. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), Vua Minh Mạng cấp cho Khâm thiên giám ba cái kính: Chiêm nhật kính (kính xem mặt trời), đại thiên lý kính và thiên lý kính. Vua Dụ rằng: “Từ nay về sau xem xét tượng trời. Hết thảy các điều tai hay lành do mắt thấy tai nghe đích xác thì cho cứ thực mật phong tâu ngay”.
 
Năm sau, Khâm thiên giám được trang bị thêm hai thước phong vũ và hàn thử. Thước phong vũ chuyên xem mưa gió thuận nghịch, lớn nhỏ. Thước hàn thử thì lấy mực nước ở trong ống (pha lê) lên xuống cao thấp mấy độ mà xét nghiệm. Trên thước có nét gạch ngang là chỗ bắt đầu xem nóng lạnh. Vua từng bảo bộ Lễ rằng: “Thước hàn thử vốn có độ thường, như khí trời tạnh sáng thì khí dâng lên, âm u thì khí sụt xuống, biết trước khí hậu cái ấy rất nghiệm. Nếu ấm áp mà khí xuống, âm u mà khí lên thì là khí bất chính, nhân dân dễ sinh bệnh tật. Lấy thước ấy để đo lường khí hậu thực là phép diệu. Biết xem xét kỹ thì suy tính không sai” .
 
Vua triều Nguyễn, nhất là Minh Mạng rất sát sao, thậm chí đích thân tìm hiểu cách sử dụng dụng cụ quan sát thiên văn. Trước kia người Phú Lãng Sa là Nguyễn Văn Chấn dâng 2 cái ống nhòm bằng đồng của Tây dương, gọi là ống nhòm mặt trời. Vua Minh Mạng để một cái ở trong cung, một cái cho Khâm thiên giám, chưa có ai biết dùng. Vua từng khi rỗi đem xem biết được cách xem, gọi Phan Huy Thực và Nguyễn Danh Giáp bảo rằng: “Cái ống nhòm này, để bằng, để lệch, để cao, để thấp, độ số khác nhau, gần thì đo được núi non, xa thì xem được trời đất, rất là diệu”. Bèn chỉ vẽ cặn kẽ cho họ tự biết suy xét. Sau đó triều đình còn tổ chức sát hạch sử dụng ống nhòm .
 
Những phán đoán, tâu báo của Khâm thiên giám đúng trong nhiều trường hợp, tính toán được ngày giờ nhật thực, nguyệt thực để trình lên vua từ trước đó hàng tháng và thông báo cho địa phương nơi sẽ xảy ra hiện tượng biết để theo dõi, quan sát, báo cáo về triều đình. Nhưng cũng có lúc sai, bị vua nhắc nhở, quở phạt.
 
Giờ Mùi, ngày Mậu Tuất mồng 1 tháng 3 năm Tự Đức 28 (1875), có nhật thực. Trước đó, quan ở Khâm thiên giám tính toán không chính xác, cho rằng không có. Vì vậy chánh giám Trần Văn Thừa bị xử đánh 60 gậy, phạt bổng 1 năm.
 
Như vậy, mặc dù hấp thụ phần nào kiến thức thiên văn của phương Tây qua sách Trung Hoa, biết quả đất tròn, tính được vĩ độ các tỉnh thành, xác định được thời gian nhật thực, nguyệt thực nhưng lúc bấy giờ Khâm thiên giám triều Nguyễn vẫn chưa vén được bức màn huyền bí che phủ các thiên tượng. Chính vua Minh Mạng, một người tự nghiên cứu thiên văn tới trình độ chỉ ra được chỗ sai trong tính toán của các quan Khâm thiên giám, cũng phải thừa nhận “thiên văn vốn là việc huyền diệu”.
 
Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Minh Mạng, tờ 103, tập 13.
Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tờ 82, tập 47.
Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tờ 72, tập 137.
Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Minh Mạng, tờ 189, tập 66.
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tập 7, trang 154.
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tập 9, trang 207.
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tập 5, trang 651.
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tập 2, trang 445.
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tập 2, trang 531.
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tập 2, trang 628.
Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản thiệu Trị, tờ 193, tập 17.
Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tờ 97, tập 269.
hồng nhung
Theo: laodong.vn
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Trung tâm TTXTDL Bình ĐịnhKhám phá HuếDu lịch Khánh HòaCổng du lịch Thừa Thiên HuếTrung tâm TTXTDL Thừa Thiên HuếDu lịch Hà NộiDu lịch thành phố Hồ Chí MinhDu lịch Quảng NamDu lịch Đà NẵngDu lịch Quảng BìnhDu lịch Ninh BìnhDu lịch Gia LaiSở VHTTDL Thanh Hóa
Thống kê truy cập
Lượt truy cập 14.563.206
Đang truy cập 3.596